Tôi còn nhớ hồi  cấp một, cấp hai chúng tôi khi đi qua các trường đại học với những cánh cổng to cao, thường im ỉm đóng cứ đứng nhìn các anh chị sinh viên trông rất trí thức một cách đầy khâm phục : “Cổng trường đại học cao vời vợi. Mười thằng vươn tới, chín thằng rơi.” Đối với chúng tôi hồi đó, trường đại học là một ước mơ xa xôi đầy cảm hứng.
Nay, giáo dục đại học đã khác xưa nhiều lắm. Trường đại học không còn là một sự chọn lọc xã hội dành cho trí thức trình độ cao nữa. Hầu hết các trường đại học đều mở cửa để đón sinh viên, không chỉ là cửa chính mà còn của hậu, cửa hông, cửa  từ xa đều được mở hết thông qua các chương trình đào tạo …
Người người học tập, nhà nhà học tập để tiến tới xây dựng một xã hội học tập . Mục đích mà nền giáo dục nước nhà đặt ra là rất chính đáng.Giáo dục đại học Việt Nam ở thời điểm hiện tại có một điểm tương đồng với giáo dục đại học Hoa Kỳ, đó là việc hướng đến một nền giáo dục đại chúng. Tôi không so sánh hai mô hình đào tạo đại học này mà chỉ bàn đến một điểm chung duy nhất: “Tính mở.”
Hoa Kỳ có rất nhiều loại hình đại học, từ các trường chọn lọc nhất theo định hướng nghiên cứu đến các trường nhập học tự do. Khoảng 40% sinh viên ở Hoa Kỳ bắt đầu từ các trường cao đẳng cộng đồng và các trường đại học không chọn lọc dành cho học sinh tốt nghiệp phổ thông, có năng lực thấp hoặc chưa có định hướng rõ ràng cho nghề nghiệp tương lai. Đây là cơ hội để sinh viên “thử” một loại hình đào tạo ít đòi hỏi về trình độ trước khi có một sự lựa chọn nghiêm túc để tiếp tục đầu tư thời gian và tiền bạc ở các trường đại học có uy tín, đào tạo bốn năm hoặc dài hơn và thường khắt khe về các tiêu chuẩn tuyển sinh để đảm bảo chất lượng đầu ra.
Bạn hãy hình dung giáo dục đại học Hoa Kỳ có hình nón: mở rộng đầu vào và thắt chặt đầu ra. Trên bước đường xã hội hóa giáo dục đại học, Việt Nam cũng cung cấp nhiều loại hình đào tạo và nhiều trường đại học mới ồ ạt ra đời,  đón nhận các em học sinh vừa rời ghế phổ thông và hồ hởi gắn cho các em một cái mác : Sinh viên đại học. Đáng nói hơn, các em nào năng lực thấp không qua nổi kỳ thi tuyển đại học nhưng phụ huynh có khả năng thì lại được gắn một cái mác khác “oai” hơn: “Sinh viên một số trường đại học và viện đào tạo quốc tế với chuẩn đầu vào là điểm tuyển sinh dưới điểm sàn.” Điều đáng nói ở đây là ở Việt Nam, đã được gọi là sinh viên thì hầu hết phải tốt nghiệp đại học, dù con đường đi có dài ngắn khác nhau.Và bạn hãy hình dung giáo dục đại học Việt Nam gần giống hình lăng trụ tròn: đầu vào và đầu ra gần như bảo toàn về số lượng. Vậy thì rõ ràng các trường đại học đâu có “giết” sinh viên trên giảng đường? Tuy nhiên, với cách đào tạo này, các em lại gián tiếp bị “giết” trên một chiến trường khốc liệt khác là thị trường lao động với những quy luật chọn lọc và đào thải của nó.
Một nhận xét của một đồng nghiệp trên báo, rằng thầy cực ghét kiểu tư duy kiểu giảng viên phải nhai cơm rồi mớm cho sinh viên, người chỉ biết nuốt mà đôi khi cũng không hề biết cơm có ngon không, rất ít người tự mình gắp lấy thức ăn và tự nhai và càng ít người biết tự chọn nguyên liệu mà thầy cô đã cung cấp, rồi tự chế biến món ăn cho chính mình… Thấy buồn.

Sinh viên cần những người dẫn đường có khả năng truyền cảm hứng để các em tìm một lối đi, vậy giáo viên đừng nên tự cho mình là bảo mẫu bị bắt buộc phải chăm bẵm những đứa trẻ hư đốn và lười biếng. 
Để có một chỗ ngồi ở giảng đường, cha mẹ của các em phải lao lực nhiều đóng cho con tiền học phí. Tuy nhiên, tình trạng các em đến lớp không học được nhiều hoặc không học được gì do giáo viên năng lực kém và giáo viên bỏ lớp không báo trước không phải là hiện tượng cá biệt.

Tôi nghĩ chúng ta nên nhìn nhận và vận hành nền giáo dục theo cơ chế thị trường. Chữ “thị trường” ở đây không có nghĩa là một môi trường bát nháo người mua kẻ bán để làm đảo lộn hết mọi giá trị của nền giáo dục “tôn sư trọng đạo”. Tính “thị trường” sẽ điều tiết, hướng dẫn các bên liên quan thực hiện đúng chức năng của mình theo quy luật cung cầu.
Các trường đại học nên được phân tầng rõ ràng về chất lượng và có trách nhiệm sản phẩm của mình, đừng bán cái mình có; hãy bán cái thị trường cần. Đừng duy trì những chương trình đào tạo lỗi thời đang có sẵn; hãy nhạy bén với thị trường lao động để cập nhật những kiến thức, trang bị những kỹ năng có tính áp dụng thực tiễn cho sinh viên.
Các giáo viên nên xem học trò là khách hàng để làm tốt nhiệm vụ của mình. Ngành giáo dục cũng là một ngành dịch vụ, nơi những ứng xử, giao tiếp với khách hàng là một yếu tố quan trong để tạo nên thành công và sự hài lòng.
Nói cho cùng, lương của giáo viên một phần cũng từ nguồn học phí của phụ huynh sinh viên đóng góp trên cơ sở chia sẻ chi phí của chính sách xã hội hóa giáo dục, vậy nên giáo viên cũng nên cố gắng làm tốt nhiệm vụ của mình .
Các sinh viên cũng nên là một khách hàng khôn ngoan và có một thái độ đúng khi lựa chọn một sản phẩm giáo dục. Các em đừng lựa chọn một trường học, một ngành học theo hiệu ứng đám đông vì đến thời điểm tốt nghiệp, nhu cầu của thị trường đối với một ngành từng rất được ưa chuộng có thể đã bão hòa.
Các em đừng đổ lỗi hoàn toàn cho nhà trường khi gặp phải một môi trường học tập không tốt, bởi theo luật thị trường, người mua phải có trách nhiệm với lựa chọn của mình. Đây là nguyên tắc phổ biến trên thế giới : Xin người mua hãy cẩn trọng.
.


 Triết Học Đường Phố